Giống chó Poodle

1789

Giống Poodle là một giống chó nhỏ, có nhiều chuẩn đa dạng và chúng không được xếp vào loại chó thể thao. Mặc dù nguồn gốc trực tiếp của chúng còn chưa được tìm ra, nhưng người Pháp là những người đầu tiên lai tạo cho ra nhiều giống Poodle như hiện nay. Đầu tiên, giống chó này được sử dụng để đi săn vịt và sau đó chúng được huấn luyện để biểu diễn xiếc, thường xuyên giành giải trong các cuộc thi về chó hay làm chó dẫn đường và làm thú cưng trong nhà.

Đặc điểm thể chất

Với nguồn gốc là một loài chó săn, tạng người của những chú Poodle phản ánh rõ nét nguồn gốc vận động viên của chúng. Với dáng người vuông vắn, những chú Poodle thường sở hữu một hình thể đẹp và khí chất kiêu hãnh. Dáng đi của chúng nhẹ nhàng và thanh thoát. Theo truyền thống, người ta hay tạo kiểu lông cho chúng với mục đích trang trí và thực hiện nhiều chức năng khác. Các kiểu tạo hình Puppy, Continental, English saddle và kiểu thể thao là những kiểu dáng được chấp nhận trong các màn biểu diễn Poodle.

Tính cách

Loại Standard (loại lớn): Những chú Poodle loại này là những chú chó thông minh và nghe lời nhất. Chúng có tính cách kết hợp giữa sự nhiệt tình và tinh thần phiêu lưu. Ngoài giữ được niềm vui với việc săn bắt từ tổ tiên, chúng còn thường thích bơi lội, chạy bộ và săn mồi. Mặc dù chúng tỏ ra dè dặt đối với người lạ, nhưng chúng lại rất thân thiết với các thành viên trong gia đình, đặc biệt là với trẻ nhỏ.

Loại Miniature (loại nhỏ): Những chú chó nhạy cảm này có xu hướng gắn bó với một chủ và dè dặt với người lạ. Một số con sủa rất nhiều. Nói chung, chúng hòa đồng với những chú các vật nuôi khác hay trẻ nhỏ trong nhà. Những chú Miniature Poodle tỏ ra sống động, ham chơi và đáng yêu và ngoài ra cũng không kém phần thông minh, có trách nhiệm, nhiệt tình và biết nghe lời. Đây chính là lý do vì sao chúng trở thành loài chó cảnh phổ biến nhất hiện nay.

Chăm sóc

Poodle cần được tham gia nhiều hoạt động xã hội và tương tác nhiều với con người cả về thể chất lẫn tinh thần. Các hoạt động như một cuộc chơi ngắn và có phần thử thách, trò chơi nghe theo hiệu lệnh hay một cuộc đi bộ ngắn.. vv đều cần được diễn ra hàng ngày. Tuy nhiên cũng không nên để những chú Poodle ở ngoài lâu . Những chú Poodle Standard thậm chí còn cần được hoạt động thể chất nhiều hơn (ví dụ: chúng thích đi bơi)

Những chú chó biểu diễn còn cần được chải lông hàng ngày, những chú chó lông ngắn hơn thì chỉ cần chải 1 tuần một lần. Trong thời kì rụng lông, lông của Poodle không rơi xuống mà bị mắc vào những sợi lông khác dễ bị bện chặt vào vì thế nên những sợi lông rụng này cần được loại bỏ. Có thể đưa những chú Poodle đến các cửa hàng chăm sóc thú cưng để tạo kiểu lông cho chúng khoảng 4 đến 6 tuần một lần.

Sức khỏe

Loại Miniature (loại nhỏ): Giống Miniature Poodle có tuổi thọ từ 13 đến 15 tuần và dễ bị những bệnh như chứng lông quặm (lông mọc trong mí mắt), chứng cụp mi, giun sán, đục thủy tinh thể, tăng nhãn áp, ống dẫn động mạch vành hay một số bệnh nghiêm trọng hơn như teo võng mạc tiến triển (PRA), bệnh động kinh, bệnh Legg Perthes hay trật xương bánh chè. Bệnh sỏi tiết niệu thỉnh thoảng cũng được tìm thấy ở giống chó này. Giống Miniature Poodle được khuyên nên làm những bài kiểm tra mắt, đầu gối và hông và những bài test DNA để phát hiện bệnh PRA và bệnh von Willebrand’s Disease (vWD).

Loại Standard (loại lớn): Những chú chó Poodle lớn sống từ 10 đến 13 năm. Chúng có thể mắc các bệnh nghiêm trọng như xoắn dạ dày, bệnh Addison và viêm tuyến bã nhờn. Ngoài ra chúng còn có thể mắc một số bệnh khác như like giun sán, , cụp mi mắt, bệnh động kinh, đục thủy tinh thể và loạn sản hông (CHD). Những bài kiểm tra về mắt, hông, sinh thiết da và DNA rất cần thiết để phát hiện ra những chứng bệnh kể trên.

Lai lịch

Tổ tiên lâu đời nhất của Poodle được cho là một giống chó có bộ lông xoăn đến từ Trung Á và cũng được tìm thấy ở Pháp. Nhiều giống chó nghịch nước lông cứng cũng được cho là tổ tiên của giống chó này. Giống chó lâu đời nhất trong nhóm này là Barbet, một loại chó có bộ lông xoăn thường được tìm thấy ở Hungary, Pháp và Nga. Tuy nhiên những chú chó Poodle ngày nay chịu ảnh hưởng lớn từ những dòng máu Đức. Cái tên Poodle bắt nguồn từ một từ tiếng Đức là pudel có nghĩa là vũng nước, thể hiện bản chất thích nghịch nước của giống chó này.

Ở Pháp, những chú chó này được đặt tên là chien canard (chó vịt) hay caniche (chó xù) để thể hiện khả năng săn vịt của giống chó này. Nhờ bản năng thích nước và có khả năng chăn gia súc, những chú chó Poodle trở thành người đồng hành tin cậy trong những chuyến đi săn dưới nước của con người. Chó Poodle cũng được sử dụng làm chó hướng dẫn, chó bảo vệ, chó quân sự, biểu diễn xiếc hay chó kéo xe giải trí. Bộ lông khi được cắt tỉa gọn gàng sẽ giúp chúng bơi lội tốt hơn tuy nhiên cần để mảng lông trước ngực đủ dài để giữ ấm cho chúng dưới nước lạnh. Nhiều người tin rằng những chỏm lông đuôi và ở bốn chân giúp bảo vệ chúng trong các cuộc đi săn nhưng đó cũng là bằng chứng mạnh mẽ gợi ý cho việc trang trí bộ lông cho Poodle trong những buổi biểu diễn.

Những phụ nữ thời trang ở Pháp mang poodle đồng hành bên mình giống như cách tầng lớp quý tộc đã từng làm, nhờ thế những chú Poodle chính trở thành quốc khuyển ở Pháp. Kiểu dáng lông điển hình dành cho Poodle cũng được định hình ở Pháp và đã có nhiều nỗ lực từ những người yêu Poodle để hoàn thiện kiểu dáng cho những chú chó nhỏ hơn. Cuối thế kỉ 19, Poodle được tham gia vào cuộc thi sắc đẹp của chó. Những chú chó tham gia đầu tiên có bộ lông dài bện chặt hoặc lông mỏng thay vì được chải chuốt cẩn thận khiến cho hình ảnh của Poodle trở nên rất ấn tượng. Tuy nhiên, thật khó để duy trì xu hướng này và đến đầu những năm 1900 thì xu hướng này kết thúc. Ngay sau đó, phong cách bouffant (lông xù với dáng tròn) thay thế và lên ngôi. Số lượng chó Poodle đã từng giảm ở Mỹ và đến những năm 1920, khó mà kiếm được chú chó giống này ở Bắc Mỹ. Tuy nhiên, giống chó Poodle đã trở lại thành công sau khoảng một thế kỉ sau đó và trở thành một trong số những giống chó phổ biến nhất ở nước Mỹ