Nhiễm khuẩn amip ở loài chó

3206

Nhiễm amip ở loài chó

Nhiễm khuẩn amip là nhiễm khuẩn ký sinh trùng gây nên bởi một sinh vật đơn bào có tên là amip. Chó, mèo và cả con người cũng có thể bị nhiễm khuẩn amip. Khuẩn amip được tìm thấy chủ yếu ở vùng nhiệt đới và vùng Bắc Mỹ.

Triệu chứng

Có hai loại khuẩn amip ảnh hưởng đến loài chó: trùng kiết lị (Entamoeba histolytica) và trùng gây loét giác mạc (acanthamoeba).

Trùng kiết lỵ (Entamoeba histolytica)

  • Thường là bệnh không có triệu chứng
  • Nhiễm khuẩn nghiêm trọng có thể là nguyên nhân gây viêm đại tràng, dẫn đến tiêu chảy ra máu
  • Khuếch tán qua đường máu (lan ra toàn cơ thể thông qua đường máu) dẫn đến tổn thương và phá hủy các hệ thống cơ quan chính. Mỗi cơ quan trong cơ thể sẽ có các triệu chứng khác nhau nhưng thường dẫn đến tử vong.

Trùng gây loét giác mạc (Acanthamoeba)

  • Gây nên bệnh viêm màng não dạng u hạt (viêm não) dẫn đến chán ăn, sốt, hôn mê, chảy dịch mắt và mũi, khó thở, và có các dấu hiệu thần kinh (rối loạn phối hợp, co giật…)

Nguyên nhân

Trùng kiết lỵ Entamoeba histolyticus thường phát tán qua việc những con chó tiêu hóa phải phân của người bị nhiễm bệnh. Có hai loại amip sống tự do là amip Castellani và amip Culbertsoni. Chúng có thể được tìm thấy ở nguồn nước ngọt, nước mặn, đất và nước thải.

  • Những con chó có thể bị nhiễm bệnh do tiêu hóa hoặc hít phải nước, đất hoặc nước thải bị ô nhiễm
  • Trùng amip xâm chiếm vào da của loài chó làm chúng bị nhiễm bệnh
  • Trùng amip xâm nhập vào giác mạc của loài chó làm chúng bị nhiễm bệnh
  • Sự nhiễm khuẩn này có thể phát tán thông qua đường máu (khuếch tán qua đường máu)
  • Trùng amip có thể lan từ mũi lên não
  • Những con chó nhỏ và những con suy giảm hệ miễn dịch thì dễ bị nhiễm trùng amip.

Chẩn đoán

Xét nghiệm máu (xét nghiệm công thức máu toàn bộ và bảng tổng hợp phân tích thành phần hóa học máu) và xét nghiệm nước tiểu (phân tích nước tiểu) thường được áp dụng và thường cho ra kết quả bình thường mặc dù bằng chứng về sự mất nước, nếu có, có thể thấy trong những xét nghiệm này.
Bác sỹ thú y có thể đề xuất tiến hành các xét nghiệm khác như:

  • Sinh thiết đại tràng thu được bằng phương pháp nội soi (nội soi đại tràng được thực hiện với một ống dài hình trụ có gắn đèn). Sinh thiết có thể phát hiện ra tổn thương ở niêm mạc ruột cũng như phát hiện ra thể Tư dưỡng T ( Trophozoites, một giai đoạn phát triển trong vòng đời thể khuẩn)
  • Kiểm tra phân để tìm kiếm thể tự dưỡng T. Thể tư dưỡng T khó được tìm thấy trong phân. Các chất nhuộm đặc biệt được dùng để tăng khả năng hiển thị của thể khuẩn.
  • Chọc dò dịch não tủy. Các nhiễm trùng liên quan đến bệnh viêm màng não có thể cho thấy sự bất thường như tăng mạnh số lượng bạch cầu, mức protein bất thường và xanthochromia( sắc tố vàng thấy trong dịch não tủy sau khi ly tâm)
  • Chụp hình cộng hưởng từ trường (MRI) não có thể phát giác ra các u hạt ở dạng viêm màng não.
  • Sinh thiết não.

Điều trị

Thuốc Metronidazole được sử dụng để kiểm soát các triệu chứng của viêm đại tràng và thường mang lại kết quả tốt. Tuy nhiên, căn bệnh này mang tính hệ thống nên (ví dụ, nhiễm khuẩn phát tán rộng qua đường máu) thường gây tử vong mặc dù được điều trị.